Thông tin cơ bản về New Zealand và quan hệ Việt Nam - New Zealand

 

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

  • - Diện tích : 270.534 km2
  • - Dân số : 4,291,900 người (2008)
  • - Thủ đô : Wellington
  • - Đồng tiền : Niu Di-lân đôla (New Zealand dollar)
  • - Toàn quyền : Ông Anand Satyanand (A-nan Xa-ti-a-nan) (từ 23/8/2006)
  • - Thủ tướng  : Ông John Key (lãnh tụ Đảng Dân tộc)
  • - Chủ tịch Quốc hội : Lockwood Smith: Lockwood Smith
  • -  Bộ trưởng Ngoại giao : Murray McCully
  • - Lãnh tụ đối lập : Phill Goff
  • - Ngày Quốc khánh : 06/02/1840 (Ngày ký Hiệp định Waitangi)
  • - Các thành phố lớn : Auckland, Christchurch
  • - Ngày lập QHNG với Việt Nam : 19/6/1975
  • - Thu nhập bình quân đầu người : 30.049 USD năm 2008 (theo số liệu của IMF)

II. ĐỊA LÝ- LỊCH SỬ:

Niu Di-lân nằm ở Tây Nam Thái Bình Dương, gồm 2 đảo chính: Bắc và Nam. Phần lớn đất đai là đồi núi, sông ngòi, hồ chứa nước và đồng bằng thấp. Khí hậu đa dạng, mang tính chất khí hậu biển, ôn đới và bán nhiệt đới, nhưng luôn thay đổi do tác động của vị trí địa lý Nam Bán cầu; có nhiều động đất và núi lửa hoạt động ở mức độ nhẹ. Nhiệt độ trung bình là 120C nhưng khác nhau rõ rệt giữa đảo Bắc và đảo Nam. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu gồm: gỗ, khí thiên nhiên, than.

Người Maori thuộc chủng tộc Polynesia ở Thái Bình Dương đã phát hiện ra Niu Di-lân vào khoảng thế kỷ thứ 10. Năm 1769, thuyền trưởng James Cook thuộc Hải quân Hoàng gia Anh đã đến thám hiểm, đổ bộ lên đảo và tuyên bố Niu Di-lân là đất của Nhà vua Anh. Người Anh đến định cư ở đảo này đã bị người bản xứ Maori chống lại. Cuộc đấu tranh của người Maori kéo dài gần một thế kỷ, kết quả là hai bên đã thoả hiệp và ký Hiệp định Waitangi ngày 06/02/1840 theo đó người Maori công nhận việc Hoàng gia Anh bảo hộ Niu Di-lân để đổi lại việc Hoàng gia Anh thừa nhận quyền sở hữu đất đai của người Maori.

III. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ:

1. Niu Di-lân theo chế độ quân chủ nghị viện. Người đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng Anh Ê-li-da-bét II. Toàn quyền do Nữ hoàng Anh cử theo đề nghị của Thủ tướng Niu Di-lân. Niu Di-lân không có Hiến pháp chính thức bằng văn bản. Người đứng đầu cơ quan hành pháp là Thủ tướng, là thủ lĩnh đảng hoặc liên đảng chiếm đa số trong Nghị viện. Thủ tướng chỉ định các Bộ trưởng trong nội các. Quyền lập pháp thuộc về nghị viện. Nghị viện Niu Di-lân chỉ có 01 viện là Viện Dân biểu. Nghị viện gồm 122 ghế, thường được bầu 3 năm một lần. Trong cuộc bầu cử quốc hội khóa 49 vào ngày 8/11/2008, Đảng Dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Ông Giôn Ki đã giành thắng lợi, chấm dứt 9 năm cầm quyền liên tục của Bà Hê-len Clác và Công Đảng (từ 27/11/1999-11/2008). Ngày 19/11/2008, ông Giôn Ki và toàn bộ nội các mới đã tuyên thệ nhậm chức. Về mặt hành chính, Niu Di-lân được chia làm 74 đơn vị hành chính theo lãnh thổ (territorial authority), gồm 15 hội đồng thành phố, 58 hội đồng quận (district council) tại các vùng nông thôn, và 1 hội đồng địa hạt (county council) dành cho vùng Chatham Islands. Mỗi đơn vị hành chính do một thống đốc (mayor) đứng đầu.

2. Hiện nay, Niu Di-lân có khoảng 20 đảng phái, trong đó có 2 đảng lớn là: (a) Đảng Dân tộc - hiện là đảng chính trong liên minh cầm quyền, thành lập năm 1936 - bảo vệ quyền lợi cho tư bản lớn và điền chủ giàu có, thủ lĩnh hiện nay là ông John Phillip Key (Giôn Phi-líp Ky); (b) Công Đảng - hiện là đảng đối lập, thành lập năm 1916 - đại diện cho các công đoàn, (sau thất bại trong cuộc bầu cử ngày 8/11/08, bà Hê-len Clác đã từ chức lãnh tụ Công đảng. Thủ lĩnh hiện nay là ông Phin Gốp); Ngoài ra còn có một số đảng nhỏ khác như Đảng Tiến bộ, Đảng Niu Di-lân Trên hết (New Zealand First), Đảng Tương lai Đoàn kết, Đảng Xanh, Đảng Dân tộc... Liên minh cầm quyền bao gồm Đảng Dân tộc liên minh với các đảng Tương lai Đoàn kết, Maori và đảng ACT.

IV. KINH TẾ-XÃ HỘI:

Niu Di-lân có cơ sở kinh tế nông-công nghiệp phát triển, trong đó chăn nuôi giữ vai trò quan trọng; cơ cấu kinh tế: nông nghiệp (4,7%), công nghiệp (27,8%), dịch vụ (67,6%); 3/4 sản phẩm nông nghiệp hàng năm dùng để xuất khẩu. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 30.049 USD (2008). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 2%. Riêng năm 2008 GDP tăng ..% do bị tác động từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế Niu Di-lân chủ yếu dựa vào thương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá. Niu Di-lân buôn bán với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó các bạn hàng lớn nhất là Ô-xtrây-lia, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm sữa, thịt gia súc, gỗ, cá, thiết bị máy móc, rau và hoa quả. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phương tiện giao thông, máy móc, nhiên liệu, chất dẻo, thiết bị y tế....

Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào Niu Di-lân chủ yếu đến từ Ô-xtrây-lia, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Anh, Mỹ, tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất, xây dựng và du lịch. Niu Di-lân được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng cao về khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, kinh tế Niu Di-lân hiện cũng chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 4,6% (cao nhất từ năm 2003) và giá nhà đất giảm xuống mức kỷ lục (10-15%).

V. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI:

Cho đến những năm 1960, Niu Di-lân phụ thuộc vào Anh, Mỹ và phương Tây về mặt đối ngoại. Từ đầu những năm 1970 đến nay, Niu Di-lân thực hiện chính sách đối ngoại độc lập hơn, nhất là trong quan hệ với Mỹ, tăng cường quan hệ gần gũi với Ô-xtrây-lia và các nước đảo ở Nam Thái Bình Dương. Chính phủ hiện nay của Đảng Dân tộc ưu tiên: (i) tăng cường và củng cố quan hệ với Ô-xtrây-li-a; (ii) Phục hồi và nâng tầm quan hệ với Mỹ, củng cố các mối quan hệ với phương Tây; (iii) Tăng cường quan hệ với các đối tác quan trọng khác, đặc biệt hoàn tất đàm phán FTA với Mỹ và một số nước Châu Á; (iv) Phát triển quan hệ với các nước đảo Nam Thái Bình Dương; (v) Tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Á-Thái Bình Dương; (vi) ủng hộ các định chế của WTO, APEC và chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Quan hệ Niu Di-lân - Mỹ vẫn được duy trì trên nền tảng những giá trị đã gây dựng từ thời Chính phủ Công Đảng và tập trung đẩy mạnh đàm phán FTA. Chính phủ mới của Niu Di-lân muốn khẳng định mình là đồng minh của Mỹ trong khu vực với việc cam kết tiếp tục duy trì quân tại Afghanistan và vùng Vịnh.

Quan hệ với Ô-xtrây-li-a tiếp tục được tăng cường, đặc biệt là hợp tác an  ninh, quốc phòng. Thủ tướng John Key đã thăm chính thức Ô-xtrây-li-a trong hai ngày 1-3/3/2009. Hai nước đã xem xét lại một loạt vấn đề trong quan hệ song phương như xây dựng thị trường kinh tế thống nhất và định hướng lãnh đạo cho quan hệ song phương; cũng như những vấn đề khu vực và quốc tế như vấn đề Đông Timor, những nỗ lực chung của hai nước trong việc ủng hộ sự phát triển và ổn định của khu vực Nam Thái Bình Dương, và cam kết của hai nước ở Afghanistan. Quan hệ với Trung Quốc cũng được chú trọng. Niu Di-lân là nước phát triển đầu tiên ký FTA với Trung Quốc vào tháng 4/08. Niu Di-lân tiếp tục coi trọng quan hệ với ASEAN và các nước Đông Á khác: coi trọng và đẩy mạnh khai thác Hiệp định thương mại tự do với ASEAN (AANZFTA) ký vào tháng 2/2009 (ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Niu Di-lân, sau Mỹ và Ô-xtrây-li-a với kim ngạch thương mại lên 4,6 tỉ vào năm 2008); đón Tổng thống Hàn quốc Lee Myung Bak (27-28/2/2009) nhằm đẩy mạnh đàm phán FTA và tăng cường quan hệ an ninh, quốc phòng hai nước. Ngoại trưởng Murray McCully đã thăm một số nước như Pháp, Đức, Hà Lan… nhằm đẩy mạnh quan hệ của Niu Di-lân với Châu Âu và Nato. Quan hệ với các nước đảo Thái Bình Dương được coi trọng.

VI. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM:

Ngày 19/6/1975, Việt Nam và Niu Di-lân thiết lập quan hệ ngoại giao. Đại sứ quán Niu Dilân tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Niu Dilân tại TP Hồ Chí Minh thành lập từ tháng 11/1995. Ta lập Đại sứ quán tại Niu Dilân tháng 5/2003. Đến nay, quan hệ song phương giữa hai nước phát triển mạnh mẽ và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh quốc phòng, giáo dục đào tạo, du lịch… Tình hình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

1. Hợp tác chính trị: tiếp tục được đẩy mạnh và phát triển theo hướng thuận lợi. Hai bên trao đổi nhiều đoàn cấp cao. Các chuyến thăm Niu Dilân của Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 11/2005) và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 9/2007) đánh dấu những bước phát triển mới trong quan hệ hai nước. Đặc biệt, hai bên đã ký  "Tuyên bố về Hợp tác giữa Việt Nam và Niu Di-lân" tạo cơ sở cho việc đẩy mạnh quan hệ hai nước hướng tới một quan hệ đối tác toàn diện hơn.

2. Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư: Hai nước đã ký được một số Hiệp định hợp tác như Hiệp định Hợp tác Kinh tế Thương mại, Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư, Hiệp định Hàng không và nhiều thỏa thuận khác.

  • + Về thương mại: Kim ngạch thương mại hai nước tăng đều qua các năm, từ 187,8 triệu USD năm 2001 lên  313, 6 triệu USD năm 2008 (ta xuất 76, 641 triệu USD và nhập 237 triệu USD). Kim ngạch thương mại hai chiều trong 5 tháng đầu năm 2009 đạt 101,135 triệu USD (ta xuất 19,649 triệu USD, nhập 81,486 triệu USD). Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của ta là đồ gỗ, hạt điều, hải sản, giày dép, cà phê... và nhập khẩu chủ yếu là sữa bột, gỗ, nguyên vật liệu dệt may, sắt thép...  Trong năm 2005 ta đã lập cơ quan Thương vụ và cử Tham tán Thương mại Việt Nam tại Niu Di-lân. Trong 9 tháng đầu năm 2008, ta xuất 57 triệu USD gồm các sản phẩm gỗ, giày dép, hạt điều, hải sản... và nhập 171 triệu USD chủ yếu gồm sữa và các sản phẩm sữa. Ngày 28/2/2009, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng và Bộ trưởng Thương mại Niu Di-lân đã chính thức ký thư trao đổi công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam và ký thỏa thuận Niu Di-lân tiếp nhận 300 lao động Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Niu Di-lân cam kết hạn mức này cho Việt Nam và là nhân nhượng lớn vì lao động nhập cư luôn là vấn đề rất nhạy cảm với Bạn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay. Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam-Niu Di-lân do Thứ trưởng Công thương chủ trì đã họp được 3 phiên (phiên thứ 3 tổ chức năm 2007).
  • + Về đầu tư: Niu Di-lân hiện có 18 dự án đầu tư ở Việt Nam với tổng số vốn đăng ký trên 72 triệu USD (đứng thứ 38/86 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam), tập trung trong các lĩnh vực như chế biến gỗ, thăm dò khai thác chế biến quặng nikel, sản xuất đồ uống, sản xuất chế biến sữa, sản xuất bêtông, tấm lợp mạ màu, sản xuất hàng mây tre xuất khẩu, xây dựng, kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn... Các dự án của Niu Di-lân phần lớn có vốn đăng ký trung bình khoảng 4,5 triệu USD/dự án. Về địa bàn, đầu tư của Niu Di-lân tại 6 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung tại Sơn La, Bình Định, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về giáo dục: Hiện nay tại Niu Di-lân có khoảng 1.500 sinh viên Việt Nam đang theo học, phần lớn theo chế độ tự túc. Bộ trưởng Giáo dục Niu Di-lân thăm chính thức Việt Nam (5/2004), nhân dịp này Bộ Giáo dục Đào tạo hai nước ký Thỏa thuận khung hợp tác về Giáo dục đào tạo nhằm thúc đẩy hợp tác về giáo dục, đào tạo giữa hai nước. Hiện nay một số trường Đại học của Niu Di-lân như Đại học Victoria, Đại học Công nghệ Auckland (AUT) đã có quan hệ hợp tác, liên kết đào tạo trực tiếp với một số trường Đại học của ta như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quy Nhơn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một hướng hợp tác hiệu quả và có triển vọng phát triển trong thời gian tới.

4. Về ODA: Niu Di-lân chính thức cung cấp viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam từ năm 1995. Trong năm tài chính 2004-05, mức viện trợ là 3,06 triệu NZ$; năm tài khóa 2005-2006 tăng lên 4,7 triệu NZ$; 2006 - 2007: 6,7 triệu NZ$; 2007-2008: 8,5 triệu USD và 7,4 triệu USD trong năm 2008-2009. Viện trợ của Niu Di-lân tập trung trong một số lĩnh vực ưu tiên như phát triển nguồn nhân lực, phát triển nông nghiệp và nông thôn, y tế và quản lý nhà nước. Một số dự án ODA của Niu Dilân tuy có quy mô nhỏ nhưng đạt hiệu quả kinh tế khá tốt. Bên cạnh đó, Niu Di-lân còn có 3 tổ chức Phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam, chủ yếu trong lĩnh vực cung cấp tình nguyện viên.

5. Về an ninh, quốc phòng: Niu Di-lân đã cử Tuỳ viên Quốc phòng kiêm nhiệm Việt Nam thường trú tại Băng-cốc từ tháng 02/2001. Từ 19 - 23/3/2007, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thăm Niu Di-lân và chính thức lập cơ chế tham khảo quốc phòng thường niên và từ 24 - 25/9/2007 hai bên đã tiến hành cuộc họp đầu tiên,  cuộc họp lần 2 diễn ra vào tháng 9/2008 tại Niu Di-lân.

6. - Về quan hệ giữa Quốc hội hai nước: Quốc hội Việt Nam khóa XI đã thành lập Nhóm Nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lân (là một trong 34 Nhóm Nghị sỹ Quốc hội thuộc Tổ chức Nghị sỹ Quốc hội Việt Nam với các nước). Tháng 7/2007, Quốc hội Niu Di-lân mới thành lập Nhóm NSQH Niu Di-lân - Việt Nam. Quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước tại các diễn đàn liên nghị viện khu vực và quốc tế diễn ra tốt đẹp. Chủ tịch Quốc hội Niu Di-lân thăm ta từ 14-17/4/2009 nhằm tăng cường quan hệ giữa hai quốc hội hai nước.

7. - Hợp tác trong khuôn khổ đa phương: Niu Di-lân coi trọng vai trò, ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trong ASEAN, tại khu vực và coi ta là đối tác quan trọng của Niu Di-lân, mong muốn ta làm cầu nối để Niu Di-lân hội nhập sâu hơn vào khu vực. Niu Di-lân ủng hộ và hợp tác tốt với ta tại các diễn đàn đa phương như WTO, APEC, LHA… Niu Di-lân đã sớm ủng hộ ta làm thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc 2008 - 2009.

8. - Việt kiều: Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam sống ở Niu Di-lân có khoảng 4.700 người Việt định cư và 1.500 sinh viên, nghiên cứu sinh, chủ yếu sinh sống ở Auckland và Wellington.